TIN MỚI

Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Chủ tịch MTTQ

Hôm nay (5/9), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân được Đoàn Chủ tịch UB TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương và bầu giữ chức Chủ tịch khóa VII thay ông Huỳnh Đảm nghỉ hưu theo chính sách.
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân là ủy viên Bộ Chính trị từ tháng 5 vừa qua.
Ông sinh năm 1953 tại tỉnh Trà Vinh, là giáo sư kinh tế, tiến sĩ, từng là Phó Chủ tịch UBND TP.HCM, Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo.
Tân Chủ tịch UB TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân và người tiền nhiệm Huỳnh Đảm

Báo cáo tại hội nghị của MTTQ hôm nay, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết trong hai ngày 1/8 và 30/8, Bộ Chính trị đã thảo luận và đồng ý để ông Huỳnh Đảm thôi tham gia Đảng đoàn UB TƯ MTTQ, thôi giữ chức Chủ tịch khóa 7 để nghỉ hưu theo chính sách.
Bộ Chính trị cũng nhất trí giới thiệu ông Nguyễn Thiện Nhân để UB TƯ MTTQ hiệp thương cử làm Chủ tịch mới.
Ông Huỳnh Đảm chia sẻ bản thân ông đã nhiều lần trực tiếp kiến nghị Bộ Chính trị xem xét sớm cử một ủy viên Bộ Chính trị làm Chủ tịch UB TƯ MTTQ như một sự khẳng định mối quan tâm của Đảng đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.
"Nếu MTTQ có một ủy viên Bộ Chính trị làm Chủ tịch, sẽ tăng thêm vị thế chính trị của MTTQ và tăng những thuận lợi cần thiết trong việc phát huy vai trò của Mặt trận. Đó cũng là sự nêu gương của Trung ương đối với địa phương và cơ sở trong việc tăng cường đội ngũ của Đảng ở các cấp", ông Huỳnh Đảm nói.
Mặt trận không phải là cây kiểng, bưu điện
Tại hội nghị, GS. Nguyễn Lân Dũng bày tỏ cảm tạ đối với nguyên Chủ tịch Huỳnh Đảm - "một người tận tụy với công việc dù sức khỏe không tốt, vóc dáng nhỏ bé nhưng có mặt ở tất cả những nơi khó khăn, lụt bão; cởi mở, nụ cười luôn trên môi, sẵn sàng lắng nghe mọi ý kiến; trong sáng, giản dị, liêm khiết".
mặt trận, MTTQ, Nguyễn Thiện Nhân, phản biện, giám sát, Tương Lai, Nguyễn Lân Dũng
GS. Nguyễn Lân Dũng mong tân Chủ tịch MTTQ đưa tiếng nói MTTQ thấu đáo đến Trung ương để nguyện vọng của dân được xem xét một cách khách quan, dân chủ
Nhà khoa học lão thành chúc mừng Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trên cương vị mới. "Ông Nhân xuất thân trong gia đình cách mạng, là con của GS. Nguyễn Thiện Hành, nhà trí thức cách mạng có nhiều cống hiến cho đất nước. Lớn lên trong kháng chiến, tham gia quân đội, ông Nhân được nhà nước cho đi đào tạo trình độ cao, luôn gần gũi và có nhiều đóng góp với giới khoa học, giáo dục", GS. Nguyễn Lân Dũng nói.
Đánh giá ông Nguyễn Thiện Nhân là người giản dị, khiêm tốn, trong sạch, GS. Dũng kỳ vọng tân Chủ tịch UBTƯ MTTQ góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
"Điều đó cực kỳ quan trọng, nhất là trong lúc nước sôi lửa bỏng hiện nay, lòng dân chưa yên, chưa phải một khối nhất trí trong và ngoài nước", ông Dũng nói.
Nhà khoa học lão thành cũng mong MTTQ phát huy hơn nữa quyền làm chủ, tiếng nói của dân, tân Chủ tịch sẽ đưa tiếng nói này thấu đáo đến Trung ương để nguyện vọng của dân được xem xét một cách khách quan, dân chủ.
GS. Tương Lai cũng khẳng định vai trò số một của MTTQ trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc: Mặt trận phải là nơi có tiếng nói đa dạng của xã hội dân sự.
mặt trận, MTTQ, Nguyễn Thiện Nhân, phản biện, giám sát, Tương Lai, Nguyễn Lân Dũng
GS. Tương Lai: Mặt trận không phải là cây kiểng
"Sự quan tâm của Đảng không chỉ thể hiện ở việc cử một ủy viên Bộ Chính trị làm Chủ tịch UB TƯ MTTQ, mà quan trọng là ở nhận thức của Đảng đối với vai trò thực chất và sứ mệnh của Mặt trận. Mặt trận chính là nhân dân, không có dân thì không thể có thành công của Đảng", GS. Tương Lai nói.
MTTQ cũng phải tiếp tục phản biện mạnh mẽ các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, GS. Tương Lai khẳng định: "Mặt trận không phải là cây kiểng, chỉ làm dáng".
"Mặt trận cũng không phải là bưu điện, chỉ xem và chuyển đơn, mà còn phải giám sát các hoạt động của Đảng và Nhà nước, góp phần giải quyết tình trạng khiếu kiện đông người, kéo dài, vượt cấp rất bức xúc trong dân hiện nay", ông Nguyễn Trung Thực, Chủ tịch Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt - Đức nói.
mặt trận, MTTQ, Nguyễn Thiện Nhân, phản biện, giám sát, Tương Lai, Nguyễn Lân Dũng
Chủ tịch Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt - Đức Nguyễn Trung Thực: Mặt trận không phải là bưu điện, chỉ xem và chuyển đơn
Linh mục Nguyễn Thiện Cẩm kỳ vọng Mặt trận có tiếng nói trực tiếp, không qua trung gian. "Mặt trận không chỉ đứng ngoài vỗ tay, mà phải tham gia tích cực thay đổi hiện trạng đất nước".
Tân Chủ tịch MTTQ kêu gọi đoàn kết
Phát biểu sau khi được bầu, tân Chủ tịch UB TƯ MTTQ nói: "Đây là niềm vinh dự đồng thời là trọng trách lớn mà Đảng và MTTQ giao cho tôi. Cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi tin tưởng sẽ luôn nhận được sự ủng hộ, hợp tác của các cụ, các vị, các đồng chí trong UB TƯ MTTQ, để chung tay vun đắp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân".
mặt trận, MTTQ, Nguyễn Thiện Nhân, phản biện, giám sát, Tương Lai, Nguyễn Lân Dũng
Ông Nguyễn Thiện Nhân cũng "thiết tha kêu gọi các tầng lớp nhân dân ở trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài tiếp tục hưởng ứng, tham gia các phong trào, cuộc vận động của MTTQ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu".
"Bác Hồ đã nói năm 1955: đoàn kết là chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì đại đoàn kết mới mạnh", ông Nhân chia sẻ.
Tóm tắt tiểu sử ông Nguyễn Thiện Nhân:
Sinh ngày: 12/06/1953.
Quê quán: Trà Vinh.
Học hàm, học vị: Giáo sư – Tiến sỹ.
Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI
Đại biểu Quốc hội khóa X, XII, XIII
6/1970-12/1979: Nhập ngũ, sau đó học đại học và làm nghiên cứu sinh tại Đại học Kỹ thuật Magdeburg - Cộng hòa Dân chủ Đức (1972-1979).
1/1980-3/1983: Công tác tại Viện Kỹ thuật quân sự - Bộ Quốc phòng, Thượng úy.
4/1983-4/1985: Cán bộ giảng dạy Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh.
4/1985-7/1988: Ủy viên Ban Thường vụ Thành đoàn, Trưởng ban Khoa học - Kỹ thuật rồi Phó Bí thư Thành đoàn TP. Hồ Chí Minh.
8/1988-10/1990: Tùy viên giáo dục Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Đức; Đảng ủy viên Đảng bộ Đại sứ quán.
11/1990-10/1991: Học kinh tế thị trường tại Trường Đại học Kỹ thuật Magdeburg - Cộng hòa Liên bang Đức.
11/1991-8/1995: Phó Chủ nhiệm Bộ môn Quản lý công nghiệp Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh rồi học thạc sỹ quản lý cộng đồng tại Đại học Oregon (Mỹ) và khóa đào tạo chuyên gia thẩm định dự án đầu tư tại Trường Đại học Harvard (Mỹ).
9/1995-4/1997: Trưởng khoa rồi Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh. Phó Giáo sư kinh tế (1996).
5/1997-12/1999: Thành ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường TP. Hồ Chí Minh; Đại biểu Quốc hội khóa X.
12/1999-5/2001: Thành ủy viên, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh.
5/2001-6/2006: Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hồ Chí Minh; Ủy viên Hội đồng Chính sách khoa học và Công nghệ quốc gia. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Giáo sư kinh tế (2002).
7/2006-7/2007: Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự đảng, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo, đại biểu Quốc hội khóa XII.
8/2007-6/2010: Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng kiêm Bí thư Ban Cán sự đảng, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo.
Từ 7/2010 đến nay: Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng. Đại biểu Quốc hội khóa XIII. Tại hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (tháng 5/2013) được bầu vào Bộ Chính trị.
                    Nguồn: Cổng TTĐT Chính phủ
Theo VNN

'Việt Nam lãng phí rất nhiều tiền công'

Trong bối cảnh ngân sách không có tiền để xử lý nợ xấu hay đầu tư thì những khối tài sản lớn của Nhà nước vẫn nằm bất động khắp nơi trong các tập đoàn quốc doanh. 
Tại hội thảo cải cách kinh tế vĩ mô ở Việt Nam tổ chức ngày 30/8 tại TP HCM, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia chỉ ra thực trạng khối lượng tài sản của Nhà nước đang nằm bất động trong một số doanh nghiệp quốc doanh rất lãng phí.
Ông Nghĩa chỉ ra rằng, đến nay Việt Nam vẫn còn tồn tại các tập đoàn Nhà nước ra đời từ rất lâu, làm nhiệm vụ bán lương thực, bán xe đạp... Với tình hình hiện nay nó không còn phù hợp vì mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền kinh doanh buôn bán các mặt hàng này. Do đó, hầu hết các địa điểm để buôn bán lương thực, xe đạp... trước đây của các tập đoàn này giờ đã được cho tư nhân thuê lại để bán bia, bán phở hoặc mở showroom xe hơi... 
 
Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa chia sẻ tại hội thảo rằng, một khối lượng tài sản của Nhà nước đang lãng phí nhưng không được bán để thu hồi về có thể do vướng lợi ích nhóm. Ảnh: Lệ Chi
Ông Nghĩa cho rằng, trong bối cảnh ngân sách không có tiền để xử lý nợ xấu, để đầu tư… thì những tài sản mênh mông, đang lãng phí như vậy lại không được bán và thu hồi về. "Nguyên nhân sâu xa là do những người đang nắm giữ nó không muốn bán, hay nói cách khác là đụng chạm đến lợi ích nhóm. Luật thì đầy đủ nhưng vấn đề lợi ích đã cản trở tiến trình thực thi", ông nói.

Chung quan điểm, Tiến sĩ Trần Du Lịch, Phó trưởng đoàn Đại biểu quốc hội TP HCM nhận xét, phần lớn mục tiêu của kinh tế Việt Nam là thiếu đồng bộ. Tư duy của người làm chính sách hiện nay vẫn chưa thoát khỏi tư tưởng kinh tế tập trung trước đây.
 
Ông Lịch tỏ ra chua chát khi nói rằng, mặc dù Việt Nam đã tổ chức rất nhiều hội thảo, nói quá nhiều vấn đề nhưng làm thì chưa thấy đâu. Riêng vấn đề tái cơ cấu, ông nhấn mạnh "muốn tái cái gì thì tái nhưng trước tiên phải tái thể chế kinh tế". Vì đây là cái gốc của mọi vấn đề. 
Theo Tiến sĩ Lịch, trên thực tế, Việt Nam có rất nhiều chủ trương nhưng vẫn vướng thể chế. Cái quan trọng nữa là phải nhận thức được rằng, Nhà nước đẻ ra doanh nghiệp quốc doanh để làm gì. "Để kiếm lời hay để giải quyết cái khuyết tật của thị trường", ông đặt vấn đề.
Theo quan điểm của cá nhân ông, trên thị trường thì phải có cái khuyết tật riêng của nó. Còn ngay cả có phân bố nguồn lực như hiện nay đi chăng nữa thì thị trường vẫn thất bại, điển hình như thị trường bất động sản. 
 
Một khía cạnh khác, Tiến sĩ Lịch cho biết, theo một số thông tin thì nguồn vốn chủ sở hữu Nhà nước bỏ vào các công ty, tập đoàn tính đến nay đã vào khoảng vài triệu tỷ (tương đương mấy chục tỷ USD). Nhưng hàng năm "các ông chủ Nhà nước" chẳng lấy về được đồng xu cổ tức nào, thậm chí còn phải bù lỗ. "Thử hỏi trên thế giới có ông chủ đầu tư hào phóng nào làm được như vậy", ông chia sẻ.
 
Ông Lịch cho rằng, chỉnh vì thực trạng chủ bỏ tiền ra mà chẳng lấy lợi ích gì mới có chuyện nhiều vị lãnh đạo các công ty Nhà nước làm thì ít mà lương thì vài trăm triệu đồng một tháng. 
 
Bàn về triển vọng trong tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế, Tiến sĩ Lịch cho rằng, bên cạnh ưu tiên ba nhóm đầu tư công, ngân hàng, doanh nghiệp Nhà nước thì cần quan tâm giải quyết hai vấn đề sau. 
 
Thứ nhất là chuyển được nền công nghiệp từ gia công sang sản xuất. Còn hiện nay, nền công nghiệp gia công giá trị gia tăng ngày càng thấp và Việt Nam không thể có đủ giá trị nội địa hóa để cạnh tranh toàn cầu.
 
Vấn đề thứ hai là phải trở lại lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới. "Nếu không làm được hai điều này thì tôi cho rằng Việt Nam khó thành công khi tham gia toàn cầu hóa hội nhập, thậm chí sẽ vướng bẫy tự do hóa thương mại", ông lưu ý.
 
Tiến sĩ Võ Trí Thành cũng nhận xét, Việt Nam tham vọng nhất thế giới khi muốn một lần thực hiện được cả bốn mục tiêu là ổn định kinh tế vĩ mô; phục hồi dần sức tăng trưởng; sắp xếp, tái cấu trúc cả nền kinh tế, và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng toàn diện.
 

Theo VNE

9 nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng

Ngày 1/2/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 163-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Toàn văn Quy định như sau: 

- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI;
- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XI;
Bộ Chính trị quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo) như sau:


 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng ra mắt
tại phiên họp thứ nhất tại Hà Nội, ngày 4/1/2013. (Ảnh: TTXVN)

Chương I: CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
Điều 1. Chức năng
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Bộ Chính trị thành lập, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước.
Điều 2. Nhiệm vụ
1- Tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định chủ trương, định hướng về cơ chế, chính sách, pháp luật, giải pháp phòng, chống tham nhũng.
2- Thảo luận, quyết định các nội dung công tác trọng tâm, chương trình làm việc hằng năm và kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng.
3- Chỉ đạo, đôn đốc, điều hoà phối hợp các cấp ủy, tổ chức đảng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng.
4- Chỉ đạo các cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc Trung ương thông qua hoạt động thuộc phạm vi trách nhiệm của mình làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng; những sơ hở, bất hợp lý về cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền đưa ra biện pháp ngăn ngừa, khắc phục.
5- Chỉ đạo các cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc Trung ương phối hợp kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra trong phòng, chống tham nhũng. Chỉ đạo, đôn đốc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
6- Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương và cấp ủy viên, đảng viên có thẩm quyền trong xử lý khiếu nại, tố cáo về hành vi tham nhũng và xử lý các thông tin về vụ, việc tham nhũng do các cá nhân, tổ chức phát hiện, cung cấp.
7- Chỉ đạo định hướng thông tin tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng. Chỉ đạo xử lý vi phạm quy định về quản lý, cung cấp thông tin và những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ.
8- Chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước, Đảng uỷ Công an Trung ương, Quân ủy Trung ương và các cơ quan có liên quan báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng; việc xử lý những vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
9- Tổ chức sơ kết, tổng kết và định kỳ hoặc đột xuất báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo.
Điều 3. Quyền hạn của Ban Chỉ đạo
1- Yêu cầu các đảng đoàn, ban cán sự đảng, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền báo cáo về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và kết quả thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng; việc xử lý một số vụ, việc tham nhũng; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý thông tin về hành vi tham nhũng; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.
2- Yêu cầu các đảng đoàn, ban cán sự đảng, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra làm rõ các vụ, việc có dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng; chỉ đạo việc phúc tra khi cần thiết.
3- Chỉ đạo, phối hợp các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử đối với các vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Trong trường hợp cần thiết, trực tiếp chỉ đạo về chủ trương xử lý đối với một số vụ, việc cụ thể hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền giải quyết lại nhằm bảo đảm việc xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
4- Kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định hoặc trực tiếp chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền tạm đình chỉ công tác, sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy theo phân cấp quản lý khi cán bộ, đảng viên có dấu hiệu tham nhũng hoặc có hành vi cản trở, gây khó khăn đối với hoạt động phòng, chống tham nhũng.
5- Chỉ đạo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cấp ủy các cấp xem xét, xử lý kỷ luật đối với đảng viên thuộc phạm vi quản lý; yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền xử lý kỷ luật về chính quyền đối với cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
6- Được sử dụng bộ máy tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan, tổ chức có liên quan để phục vụ nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng khi cần thiết.
Điều 4. Trách nhiệm và quyền hạn của Ủy viên Ban Chỉ đạo
1- Ủy viên Ban Chỉ đạo thực hiện và chịu trách nhiệm trước Ban Chỉ đạo và Trưởng ban về những nhiệm vụ được phân công.
2- Chủ động đề xuất, kiến nghị với Ban Chỉ đạo và Trưởng ban về các chủ trương, giải pháp, biện pháp thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng hiệu quả, nhất là những chủ trương, giải pháp gắn với lĩnh vực, địa bàn được phân công trực tiếp phụ trách, quản lý.
3- Chịu trách nhiệm cùng với tập thể cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng và tập thể lãnh đạo nơi công tác lãnh đạo thực hiện nghiêm các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng.
4- Các thành viên Ban Chỉ đạo được sử dụng bộ máy của cơ quan, tổ chức do mình quản lý, phụ trách để thực hiện nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo phân công.
Điều 5. Trách nhiệm và quyền hạn của Trưởng ban
1- Lãnh đạo, điều hành hoạt động chung của Ban Chỉ đạo; phân công nhiệm vụ cho các thành viên, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư về hoạt động của Ban Chỉ đạo.
2- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chương trình công tác về phòng, chống tham nhũng; quyết định kế hoạch, chương trình công tác và các vấn đề khác thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng ban.
3- Chủ trì, định hướng thảo luận, kết luận các cuộc họp của Ban Chỉ đạo.
4- Trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp không họp được Ban Chỉ đạo, trực tiếp quyết định và chỉ đạo thực hiện một số công việc cần thiết để đáp ứng yêu cầu công tác, chịu trách nhiệm về quyết định của mình và báo cáo Ban Chỉ đạo tại phiên họp gần nhất.
Điều 6. Trách nhiệm và quyền hạn của Phó trưởng ban thường trực
1- Giúp Trưởng ban trực tiếp chỉ đạo, điều phối hoạt động, phân công công việc cho các thành viên; chỉ đạo, phối hợp, triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch công tác phòng, chống tham nhũng của Ban Chỉ đạo theo uỷ nhiệm của Trưởng ban.
2- Giúp Trưởng ban chuẩn bị nội dung, chương trình và triệu tập các cuộc họp định kỳ, đột xuất; xử lý công việc thường xuyên; chủ trì một số cuộc họp và ký một số văn bản theo phân công của Trưởng ban.
3- Giữ mối liên hệ thường xuyên với Trưởng ban; định kỳ hoặc đột xuất trực tiếp báo cáo với Trưởng ban về tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, hoạt động của Ban Chỉ đạo và Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo.
4- Giúp Trưởng ban trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của Cơ quan Thường trực. Quyết định các vấn đề thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Thường trực.
Điều 7. Trách nhiệm và quyền hạn của các phó trưởng ban
1- Giúp Trưởng ban điều phối hoạt động của các thành viên theo phân công của Trưởng ban.
2- Thay mặt Trưởng ban thực hiện một số công việc, chủ trì một số cuộc họp của Ban Chỉ đạo khi được Trưởng ban phân công.
Điều 8. Thường trực Ban Chỉ đạo và Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo
1- Thường trực Ban Chỉ đạo gồm : Trưởng ban và các phó trưởng ban; làm việc theo Quy chế của Ban Chỉ đạo.
2- Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo; có trách nhiệm tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo và Thường trực Ban Chỉ đạo.
Chương II: NGUYÊN TẮC, CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC VÀ QUAN HỆ CÔNG TÁC
Điều 9. Nguyên tắc làm việc
1- Ban Chỉ đạo chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
2- Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể thảo luận, Trưởng ban kết luận và chỉ đạo thực hiện.
3- Tôn trọng và không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Điều 10. Chế độ làm việc
1- Ban Chỉ đạo làm việc theo chương trình làm việc hằng năm, có điều chỉnh khi cần thiết. Ban Chỉ đạo họp thường kỳ 3 tháng một lần, họp bất thường khi cần.
2- Kết luận các phiên họp của Ban Chỉ đạo được thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan để thực hiện.
3- Định kỳ 6 tháng một lần hoặc bất thường khi cần, Ban Chỉ đạo tổ chức giao ban công tác phòng, chống tham nhũng với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
4- Định kỳ 3 tháng một lần, các thành viên Ban Chỉ đạo báo cáo bằng văn bản với Ban Chỉ đạo và Trưởng ban về kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công.
Điều 11. Quan hệ công tác
1- Ban Chỉ đạo giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo, điều hòa phối hợp các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương trong việc chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng.
2- Chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng Toà án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong việc đề xuất, tham mưu xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng và báo cáo về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng định kỳ, đột xuất tại các kỳ họp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ.
3- Chỉ đạo Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc giám sát các cơ quan, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về phòng, chống tham nhũng và thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
4- Chủ trì điều hoà phối hợp các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương trong việc tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho định hướng xử lý đối với các vụ, việc tham nhũng nhạy cảm, phức tạp hoặc liên quan đến cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.
5- Chỉ đạo các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng có liên quan đến tham nhũng.
6- Trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, Ban Chỉ đạo trực tiếp làm việc với các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức đảng có liên quan.
7- Trao đổi thông tin cần thiết với các cơ quan, tổ chức; mời đại diện các cơ quan Trung ương và địa phương tham dự các hội nghị có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo.
Điều 12. Chế độ báo cáo
1- Định kỳ 6 tháng một lần hoặc khi có yêu cầu, Ban Chỉ đạo báo cáo kết quả hoạt động với Bộ Chính trị và đề xuất về định hướng công tác trong thời gian tiếp theo.
2- Định kỳ 3 tháng một lần, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương báo cáo Ban Chỉ đạo bằng văn bản về việc tổ chức thực hiện các kết luận của Ban Chỉ đạo và các nội dung có liên quan.
3- Định kỳ hằng năm hoặc khi có yêu cầu, các đảng đoàn, ban cán sự đảng, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ chức có liên quan báo cáo Ban Chỉ đạo về tình hình thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng.
Điều 13. Con dấu, tài khoản và kinh phí hoạt động
1- Ban Chỉ đạo có con dấu để phục vụ công tác.
2- Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo sử dụng con dấu và tài khoản của Ban Nội chính Trung ương.
3- Kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo do Văn phòng Trung ương Đảng bảo đảm và cấp qua Ban Nội chính Trung ương.
Chương III: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 14. Quy chế làm việc
Căn cứ Quy định này, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng xây dựng và ban hành quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo và nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo.
Điều 15. Hiệu lực thi hành
Quy định này có hiệu lực từ ngày ký. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm thi hành Quy định này. Trong quá trình thực hiện, nếu cần điều chỉnh, bổ sung, Ban Chỉ đạo báo cáo Bộ Chính trị quyết định./. 
HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH LÂM ĐỒNG
Địa chỉ: Số 05 Lê Hồng Phong - Đà Lạt - Lâm Đồng
ĐT/Fax: 063.3822.159 Email: ldgsme@gmail.com